Affichage des articles dont le libellé est Tìm hiểu về Đạo Cao Đài. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est Tìm hiểu về Đạo Cao Đài. Afficher tous les articles

mercredi 26 janvier 2011

Lễ Chung Niên Sám Hối - 23 tháng Chạp hàng năm


 

LỄ CHUNG NIÊN SÁM HỐI

I.    NGHĨA:
CHUNG: trọn, cuối. NIÊN: năm. SÁM: ăn năn tội lỗi. HỐI: Hối hận, sửa đổi.
Sám hối gồm có 2 ý chính:
1. Tự xét lại việc làm đã qua nhận thấy có tội lỗi, sai lầm, thiếu sót thì ăn năn lỗi cũ, đó là đối với quá khứ.
2. Từ đó, quyết tâm sửa đổi chừa bỏ không tái phạm về sau nữa, đó là nhìn về tương lai.
II. Ý NGHĨA CHUNG NIÊN SÁM HỐI:
Ăn năn hối cải tội lỗi của mình vào dịp cuối năm. Chung niên sám hối cũng là một thường lệ được thi hành trong Phật giáo, hay Thiên Chúa giáo (gọi là Confession Annuelle). Sở dĩ định vào ngày 23 tháng Chạp hằng năm là dựa theo truyền thống dân tộc, dùng ngày đó có tính chất như ngày hoàn tất mọi việc sinh hoạt của một năm cũ (cọng sổ, khoá sổ cuối năm) để chuẩn bị bước qua năm mới. Và cũng là một nghi thức tự giác, tự nhìn nhận những sai trái tội lỗi chính mình, tự suy xét về lời nói, việc làm và ý nghĩ, để ăn năn quyết tâm chừa bỏ thói hư tật xấu, khắc kỷ, phục thiện, để làm kim chỉ nam tiến thân trên đường tu đức lập hạnh.     
III. TẦM QUAN TRỌNG CỦA SÁM HỐI ĐỐI VỚI NGƯỜI TU:
Ở phạm vi Ðời, chúng ta thường nghe các từ như: xin lỗi, thú tội, kiểm điểm, phê bình...  Trong nếp Sống Ðạo, chúng ta dùng từ Sám Hối vừa chỉ tính cách chân thành tự giác nhận ra sai lầm tội lỗi để ăn năn chừa bỏ vừa hàm ý giải trừ nghiệp chướng thuộc nhiều kiếp trước. Mỗi tín hữu Cao Ðài muốn tu lập hạnh, muốn hướng thiện qua nghi thức Sám hối, cốt yếu phải lấy sự chân thật làm gốc, đừng chạy theo số lượng và hình thức bên ngoài, hãy ghi nhớ nơi quy điều, giới luật của người tín hữu Cao Ðài làm chuẩn thằng, chúng ta nương theo để tu hành nơi Kinh, luật, luận, Thánh giáo mà tìm về để thắp sáng tâm hồn, làm sống lại linh năng hồi hướng nơi mỗi chúng ta.
Lễ Chung Niên Sám Hối rất quan trọng ở chỗ: Những sự chuẩn bị của chúng ta về mặt tâm thức, tình cảm và khối lòng chân tín tuyệt đối.  Nên quan niệm rằng: không chỉ nhằm đạt kết quả rồi chấm dứt vào ngày 23 tháng Chạp nầy, mà phải luôn luôn nuôi dưỡng và phát huy tinh thần tự giác, tự tu, tự kiểm từng sát na, để nhìn lại hiện tại, quá khứ, vị lai về đời tu của mình.
Thật vậy, người tu hành muốn giải nghiệp , tức là xoá bỏ bao nhiêu oan trái ràng buộc mà chúng ta đã tạo nên trong quá khứ dài lâu là bước rất quan trọng.               
Trong Kinh Giải Oan dạy:
“Từ vô thủy bắt đầu tập nghiệp.
Nghiệp tập rồi phải kiếp trầm luân.”
Nghiệp cũ tích tụ từ nhiều kiếp trước, trong nghiệp kiếp nầy chúng ta không lo tu tĩnh, sám hối chừa bỏ còn tạo nghiệp mới nữa.
Theo Bài  kinh Mai nhắc nhỡ chúng ta:
“Điều tập nghiệp kết oan nhớ giải.
Việc lỗi lầm hối cải xin thôi;
Chí tâm hôm sớm trau dồi;
Lập thân hành đạo đền bồi nợ xưa.”
Bài Kinh Hôm nhắc nhở:
“Ngày xưa những việc thị phi.
Nay con dứt sạch dầu chi mựa hềm.”
Người có tâm hướng thiện, người chưa có chút ý niệm gì về tu cầu hoàn thiện nói chung, tất nhiên không nghĩ gì về Sám Hối. Ðối với người biết tu, quyết chí tinh tấn hoàn thiện, thì dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, việc sám hối là việc hằng ngày, phải làm suốt cả cuộc đời người tu. Theo lời khen ngợi Kinh Sám Hối: “Ngày ngày tập sửa tánh thành, Ðêm đêm quyết chí tu hành ăn năn.”
Ngày xưa bậc Thánh như Tăng Tử  còn nói: Nhất nhật tam tĩnh ngô thân, Nghĩa là: Mỗi ngày thường tự xét mình một lần, huống gì con người phàm tục như chúng ta!  Vì thế, mỗi người tín hữu chúng ta mới có truyền thống nầy để đánh giá sự tiến bộ tu học từng năm một, nên gọi là Chung Niên Sám Hối.  Mỗi chúng ta tự xét hỏi: Tại sao Tôn giáo đạo đức lại lấy việc Sám Hối làm quan trọng? Bỡi vì, con người là chủ mọi hành động của mình, thiện ác, tội phước thảy do nơi mình tạo ra. Ðức Phật nói: Lẽ Nhân quả nghiệp báo; Ðức Lão Tử nói: Hoạ phúc vô môn, duy nhơn tự triêu. (họa phước không đến mà tự mình vời nó đến); Ðức Khổng Tử nói Hoạch tội ư thiên, vô sở đảo giả (làm mắc tội với Trời, cầu khẩn cũng không được). Hay nói: Chủng qua đắc qua chủng đậu đắc đậu (trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, hoặc: tích ác phùng ác, tích thiện phùng thiện (chứa chất điều ác thì gặp ác, chứa chất điều thiện thì gặp thiện). Thánh Kinh cũng nói: Mọi việc thiện ác của anh làm là làm cho chính anh vậy. Như thế, tất thảy các Tôn giáo đều cùng nhìn nhận con người là chủ động mọi việc thiện ác, phước đức tội lỗi. Vận mạng con người chính do nơi con người xây đắp lấy, cho nên ăn năn hối cải với lương tâm của mình, chứ không Ðấng nào sửa đổi tánh tình hành động cho mình được, chính tự mình phải nhận lấy trách nhiệm sửa đổi tánh tình mình cũng như đem lại Hạnh phúc cho mình vậy. 
III.             Ý NGHĨA ĐẶC BIỆT CỦA LỄ CHUNG NIÊN SÁM HỐI: 
Trong tình tự sám hối, mỗi tín hữu cũng nên dành chỗ cho những suy nghĩ về Họ Ðạo. Chúng ta nên suy tư về Họ Ðạo nơi Ông Bà Cha Mẹ Anh Chị em, nơi đã từng làm lễ Tắm Thánh, Thành Nhân, với những ngày xa xưa khi mới lớn lên và tập tu, chúng ta suy nghĩ về hướng tu hành tinh tấn, tăng huy đạo hạnh, đã có những  dấu hiệu gì xứng đáng để cảm thấy bình an hoan hỷ chưa? Và chúng ta có thể cảm nhận ra những dấu hiệu hoặc trạng thái, ý thức  yếu kém về đường công hạnh tu tập trong nếp Sống Ðạo hằng ngày trong việc hộ trì Chánh pháp và trưởng dưỡng tình anh chị em đồng đạo không? Phải tự tu, tự kiểm, và kiểm chứng mới thấu đạt ý nghĩa  đặc biệt lễ Chung niên Sám Hối.
Mỗi tín hữu hãy tự hỏi tại sao dâng lễ Chung Niên Sám Hối, lại phải cầu xin Ơn Trên tha thứ xá giảm tội tình mình? Và có chắc hẳn sám hối sẽ được dứt sạch tội lỗi trong năm cũ không?  Chính chúng ta  phải tự nghĩ sửa đổi tâm tình, cải ác tùng thiện, nói dễ chứ khó khăn lắm, vì thói quen tật xấu đã nhiễm vào tâm thức lâu ngày thành tự nhiên, thành cố tật! Ðức Khổng Tử nói :Thiếu thành nhược thiên tánh, tập quán như tụ nhiên  (tập thành từ lúc nhỏ, cũng như thiên tánh, tập quen cũng thành tự nhiên), cũng như Tây ngạn nói: Thói quen là bản tánh thứ hai của con người. Xem như Thi sĩ Nguyễn Khuyến muốn bỏ tật nghiện rượu mà không sao bỏ được, có bài thơ rằng:
“Những lúc say sưa cũng muốn chừa,
Muốn chừa nhưng tánh lại hay ưa;
Hay ưa, nên nỗi không chừa được,
Chừa được, nhưng mà - cũng chẳng chừa!”
Ngược lại, trường hợp đặc biệt của Cụ Cố Ðạo Trưởng Hiệp Lý Lê Trí Hiển, mặc dù tuổi cao sức yếu, mắc tật nghiện thuốc phiện đã tiêm nhiễm hằng mấy mươi năm trong thời Cụ còn làm quan mà đeo đai mãi đến ngày hưu trí. Thế mà, sau khi ngộ Ðạo, Cụ quyết tâm bỏ nghiện để giữ gìn quy giới tinh nghiêm, lắm lúc bị cơn nghiện dày vò thể xác đau đớn Cụ phải ngất xỉu!  Ðạo trưởng cố quyết tâm chịu đựng đến khi khắc phục được ma ghiền, thật quả là một nghị lực phi thường! Hẵn nhiên do đâu mà được, là nhờ mãnh lực, tha lực phù trì của Thiêng liêng, nhờ đức tin cao cả mà khắc phục được ma chướng buộc ràng.    
Phản ánh các trương hợp trên, chúng ta khẳng định tất cả do Tâm tạo và ý chí nghị lực kiên cường dõng mãnh trên đường tu dưỡng, một đức tin kiên định hướng về Thầy sẽ được Ơn Trên hộ trì  soi dẫn đến minh tâm kiến tánh, cải ác tùng thiện, thành đạt đến Chân, Thiện, Mỹ.
Từ đó, ai nấy trong chúng ta đều cảm thấy vui mừng, gặp nhau đều thấy dễ chịu.  Rời nhà ra đi chúng ta mong sớm trở về, người ở nhà đợi chờ người đi vắng. Hằng năm cứ đến ngày Chung Niên Sám Hối, toàn đạo sẵn sàng dọn mình trong sạch, dâng hết khối chí thành, đốt nén hương lòng đến trước bệ Chí Tôn sấp mình khẩn nguyện qua hết lời bài Kinh Sám hối để suy gẫm câu kinh hầu tắm gội linh hồn, ăn năn tội tình trong năm, quyết sửa đổi chừa bỏ những sai trái lỗi lẫm từ nhỏ nhít đến to lớn đã từng gây ra phiền não buồn chán cho mình và cho mọi người! Thay vào đó, chúng ta đã làm được các điều vui vẻ, tốt đẹp, vừa ý, hớn hở cho nhau như những ngày đầu năm đón mừng Xuân mới.
Hiểu được, và làm được những điều chúng ta đã theo dõi đề tài từ đầu đến cuối, quả quyết do đức tin và nguyện lực của kẻ tu hành, đem lại các điều vui, tạo các việc lành, dần dần nguồn vui được tỏa rộng, hạnh lành phát huy, cảm thấy ra rằng Sám Hối có thể giảm nghiệp tăng phước, không còn tạo thêm nghiệp xấu cho mình và cho tất cả về sau, chắc chắn chúng ta sẽ hưởng được nếp Sống Ðạo: Sống Hạnh Phúc, Chết Bình An.     
IV.         KẾT LUẬN:
Xin mượn lời thơ sau đây kết thúc chuyên đề Chung Niên Sám Hối:  
Cùng về suy nghiệm lời kinh (trọn bài Kinh Sám Hối);
Soi trong nghiệp thức phù sinh kiếp người;
Quanh năm bao cuộc khóc cười;
Bao phen lầm lỗi, bao hồi đảo điên!;
Nỗi trôi giữa cõi ưu phiền;
Nay về Sám Hối Chung Niên bên THẦY;
THẦY ơi! con thiệt thơ ngây
Vướng thân khổ lụy, biết ngày nào ra?;
Thân ơi! có biết chăng là...
U mê bao độ, thăng hoa bao lần;
Bụi nào còn vướng gót chân;
Giũ xong, nhẹ bước phong trần thênh thang!
NHAN NAI

PHỤ LỤC
Nguyên văn bài kinh Sám Hối:

dimanche 16 janvier 2011

Ôn tập Thánh Giáo của Đức Lý Giáo Tông




ÔN TẬP THÁNH GIÁO 
CỦA ĐỨC LÝ GIÁO TÔNG


1. Về tu học:
 “Học mà không tu như đọc thuộc lòng một bản thực đơn mà không thực phẩm, còn tu mà không học ví như người mù đi đêm. Học tu, tu học phải đi đôi.”

2. Năm ví dụ tu hành: 
"Bần Đạo không đưa ra những gì vượt quá tầm vói của chư đệ muội. Bần Đạo cũng không bảo chư hiền phải noi gương tử đạo của Jésus, Bần Đạo chỉ khuyên chư hiền đệ hiền muội hãy làm đúng lời dạy cũ từ mấy năm qua của Ơn Trên về nội tu và ngoại tu. Những gì đã được ban trao và dạy bảo, chư hiền đệ muội hãy lấy tâm chí thành thực hành cho đến nơi đến chốn sẽ thấy được kết quả, được Trời, được Đạo, được Tâm. 

Ví dụ 1: - Bảo chư hiền đệ muội phải giữ lòng chuyên nhứt, đứng yên một chỗ, gìn một tâm, tu học hành đạo cho nên người chí thiện chí mỹ. Nếu để tâm vọng cầu, chạy đây chạy đó, thỏa mãn tính hiếu kỳ, lập trường không vững, thì tránh sao khỏi cái vô thường thấy, vô thường nghe, ắt bị sa vào chỗ tối tăm phế phận, rất uổng một kiếp vi nhân, đắc tội cùng trời đất. 

Ví dụ 2: - Bảo chư hiền trải lòng bác ái Thiên Địa chi Tâm, học Đạo Thời Trung mà hành đạo để cho guồng máy đạo được luân lưu trên dòng đời sâu cạn để thực hiện sứ mạng độ kỷ độ nhân, thì chư hiền phải phá chấp, vượt ngoài nhân ngã. Có như vậy không bị quần ma biến tâm thiên địa thành tâm phàm tục biệt phân, tự đóng khung vào chỗ chật hẹp ích kỷ, tự cột chân bó gối, đãi biếng lười, không làm lợi ích gì cho ai, mà chính mình cũng đắc tội cùng trời đất. 

Ví dụ 3: - Bảo chư hiền cần nội tâm tu tiến để ngoại thể thuần thành cho nên người đạo đức, hầu bảo trì nhiệm vụ trong tập thể, kính trên nhường dưới, nhẫn nại khoan dung, để tránh bị tà ma xúi giục, biến tâm chơn chánh thành tâm nghiêng ngã, chia nhóm chia phe, phạm giới cấm, bỏ qui điều, dễ khinh quyền pháp Đạo, mới tròn sứ mạng được ban trao, mới xứng đáng là con tin THƯỢNG ĐẾ. 

Ví dụ 4: - Bảo chư hiền vào nhập các khóa tịnh, tu luyện thân tâm trong thời hạn vắn hay dài, là vì chư hiền đã giác ngộ và tự nhận sứ mạng vào Thiên Đạo để thực hiện sứ mạng Đại Thừa, để tự giải thoát và giải thoát vạn khổ của thế nhân, thì chư hiền phải có một công phu luyện kỷ thuần thành từ nội tâm đến ngoại thể. Có như vậy sự tu chứng mới thể hiện bên ngoài và thần lực được hiển lộ bên trong. Thần lực là chủ yếu của con người, bị suy vong do bởi tâm niệm lự phóng tán. Thế nên dầu trong thời hạn tịnh dưỡng, tuy chưa được kết quả bao nhiêu nhưng nó cũng có một mục đích, một ý nghĩa. Nếu chư hiền không nhắm vào một mục đích thì công phu khó đạt thành, chư ma chủ sử lộng hành phóng tâm rồi uể oải bực dọc, không được an ổn trong lúc công phu. Nếu thời hạn ngắn hay dài cũng coi như là bị giam lỏng nào có ích chi đâu. 

Ví dụ 5: - Bảo đào tạo thế hệ tiếp nối đạo nghiệp ngày mai phổ thông phổ truyền giáo lý Đại Đạo để xây dựng kỷ nguyên thánh đức cho thế giới hòa bình, càn khôn an tịnh, ngoài ra không được làm gì khác mục đích đã định.
Đây là năm thí dụ Bần Đạo vừa nêu lên để tóm tắt những lời dạy bảo vừa qua, chư hiền đệ muội đọc lại và cố gắng thực hành."

3. Sống đạo và hành đạo: 
“Chư đệ muội có biết không, đời mạt pháp người sống đạo là [người có] cuộc sống thung dung, rất căn bản, biết hài hòa cùng nhịp điệu thiên nhiên, biết tùy thời biến hóa trước những đổi thay của từng giai đoạn, ô trược hay thanh cao, loạn hay trị đều là những cuộc thách thức người sống đạo. Tâm đạo có dõng mãnh, Tánh đạo có chói ngời mới không bị vọng động đảo điên dễ dàng bước trên đường sứ mạng thiêng liêng.

Hành đạo là tác năng tự nhiên Thiên Phú cho người sanh cõi trần gian để tiến hóa. Sách nói: “Nhơn chi sơ tánh bổn thiện". Mỗi động tác thuở ấy đều sống theo lẽ đạo. Nếu cứ giữ cái gốc lành ấy mà đơm hoa kết quả thì vấn đề con người không có gì phải nhọc tâm bàn đến.

Người hành đạo là người biết giữ lấy gốc. Có xa rời đi chăng nữa cũng biết quay trở về. Muôn sai nghìn khác là cảnh giới bên ngoài hữu hình màu sắc. 

Nếu con người không chóa mắt, không đeo đuổi chụp bắt thì oan khiên nghiệp chướng làm sao có thể vương vấn buộc ràng được.”

4. Tu Tánh luyện Mạng: 
“Rồi đây bã nếp sẽ bị phế thải khi chất rượu đã được lọc qua hồ. Những vật vô thường sẽ hư hoại khi bản thể đã kết tinh. Những chướng ngại đau khổ là ngọn lửa nung đốt thêm cho vàng mười đúng tuổi. Con người có tánh mạng. Tánh là Thiên tánh, mạng là Thiên mạng, hai tú khí âm dương tạo thành là bản thể của Thiên địa vạn vật. Nếu biết tu tánh, đừng để tánh bị muội mê bởi tham dục che lấp vì danh lợi tình tiền. Những thứ vật vô thường đã gây cho con người biết bao thảm họa triền miên từ kiếp này sang kiếp khác. Biết tu tánh thời không tham, thì vẫn có mà ăn, mà mặc, không tranh đấu mà vẫn có chỗ ở, không lăn thân vào chỗ đau khổ mà vẫn có địa vị con người. Do đó, tu tánh là ánh linh sáng chói trong muôn ngàn nẻo Thánh. Còn biết luyện mạng là Thiên mạng hằng tại, không thiên, không lệch, không ô nhiễm tham dục, trên thuận cùng Trời, dưới an vui bốn cõi, hòa mình khắp chốn, lòng dân là lòng ta, lòng ta là lòng Trời, sống thì Thánh, thác thì thiêng. Ôi, nội Thánh ngoại vương, sống hằng sống trong cõi Thiên đàng cực lạc thì còn gì mơ ước nữa. Phật Tiên cũng chỉ thế thôi."

5. Tâm như nước đại dương: 
“Người tu hành phải có tâm như nước đại dương thì tình thương mới trải khắp.

Tuy nhiên, sự luân lưu của nước cũng theo đúng luật tắc lớn ròng. Nếu lúc nào đó nước tràn ngập lụt thì đem lại sự tai hại cho nhân sanh không phải nhỏ.

Đây là Bần Đạo muốn nói người sống chung trong một tập thể Cơ Quan, phải thương yêu nhau, đùm bọc lẫn nhau, phải quyết tâm xây dựng phát triển chung. Dầu tài bộ đến đâu, khôn ngoan rất mực mà vượt ra khỏi cái chung thì tập thể bị khuy khuyết,cá nhân cũng chẳng nên gì. Người hành đạo cũng thế.

Phải trải tâm từ huệ chính đạo chính danh, không vì tiếng ngợi lời khen, vì tình cảm vụn vặt mà làm mất thể đạo viên dung. Người dầu học rộng tài cao mà tâm đạo thiếu sáng soi thì tránh sao khỏi bị cái ta hẹp hòi hạn cuộc vào vòng nông cạn tư riêng, ví như nước ao hồ chỉ có ngần ấy mà không châu du cùng khắp."

Bao nhiêu lời khuyên dạy nhắc nhở của Đại Ân Sư đầy lòng từ bi quảng đại, không ngại khó khăn, dốc lòng độ rỗi, dẫn dắt đàn em khờ dại, tận tình. Chúng đệ tử vô cùng cảm đội thâm ân, xin nguyện đem hết tâm tư sức lực cuộc đời để tuân hành những lời dạy quí báu của đại ân sư. Xin Ân Sư chứng minh và hỗ trợ cho chúng đệ tử hoàn thành sứ mạng.

Trích Dặm Dài Gánh Đạo của Đạo Trưởng Chí Tín.

jeudi 6 janvier 2011

Thánh Ngôn suy nghiệm - 2011



Quý anh chị em vào đường link sau để cùng tham khảo một công trình nghiên cứu rất có giá trị của anh Thanh Long: Học tập và suy nghiệm về những tư tưởng triết lý qua Thánh Giáo sưu tập:


Chánh Tuân.

jeudi 30 décembre 2010

Tà Chánh Yếu Ngôn - Thánh giáo dạy về Nhơn Đạo rất hay của Đức Lý Giáo Tông



ĐÀN CƠ LẬP TẠI THANH QUANG THÁNH TỊNH
Đêm 15-2 Đại Đạo năm thứ 11 (1936)

Pháp Đàn   : Trần Công Bang
Chứng Đàn : Nguyễn Quang Châu
Đồng Tử     : Thanh Long, Bạch Hổ

THI
THÀNH tâm tiếp lịnh thọ Thiên ân,
HOÀNG chúc kim niên rõ chí thần;
BỔN phụng mạng hành linh Thánh bút
CẢNH trần còn lắm kẻ mê tân.

Mừng mỗi vị, vậy đại tịnh tiếp lịnh Lý Thái Bạch ta lui.

THI
LÝ chiếu hào quang thúc bóng thiều,
THÁI bình vạn loại hưởng ân nhiêu;
BẠCH minh tà chánh lời công luận
GIẢNG luận trời Nam buổi xế chiều.

Ta mừng chư Đệ, vậy khá thành tâm nghe Ta dạy.Vì nay đạo mở Trung Thiên, mà sanh chúng còn đương điệp hồ trong giấc mộng, vậy nay Ta giáng đây cho một quyền TÀ CHÁNH  YẾU  NGÔN đó gọi là kinh tỉnh mộng nghe.

THI TỰA
TÀ tây xâm lấn buổi lầm than,
CHÁNH lý khai cơ dạy rõ rang;
YẾU đạo chơn truyền tu giải mộng,
NGÔN từ giáo hóa chỉ đôi đàng.

PHÚ LỐI VĂN

Cuộc phong hóa sớm xây vần mãi mãi, kiếp thân phàm đành chịu gió chãi với sương dầm.

Lúc sanh tiền không lo un đúc miếng từ tâm khi tử hậu mới than thầm, ôi! đà quá muộn.

Gìn một kiếp thân sanh sao khỏi uổng, biết bao nhiêu lá ý muốn của con ma đời.

Sửa nhân luân nhờ nơi mối đạo Trời, kêu khách tục khá nghe lời giáo hóa.

Kìa cảnh tục đổi xây coi cũng lạ, biết lấy đâu mà hoằng hóa sửa ân sanh.

Nhìn cuộc thế châu rơi đà lã chã, cảnh thuần phong xem cũng lạ với thợ đời.

Biển ái hà sanh chúng chớ trò chơi. Còn lặn lội trong đời đừng mượn cảnh nghỉ ngơi mà lạc nẻo. Chóng lần lên cho khéo kẻo sa hầm.

Dặn tấc lòng lo thay đổi sửa lương tâm, lời ngon ngọt chóng nên tầm theo Chánh Đạo.

Cõi trần thế rõ xem tường là nơi mộng ảo diệt oan khiên, mà thấu đáo sửa cơ mầu.

Chớ mến yêu cự các, cao lầu, nầy là cõi bể dâu có chắc được bao lâu mà cũng hầu nương dựa.

Bốn vách khổ thật là không có cửa, sớm biết lo lần lựa mối chân thành.

Lời Phật, Tiên dạy dỗ đã đành rành, thức tỉnh mộng trống giục canh đà thúc đổ.

Kiếp sanh hóa lạc vào nơi bể khổ, đường vạy ngay lưỡng lộ sẵn kia kìa.

Lúc sống còn không rèn luyện trau tria, khi kiếp thác biết đâu về nơi cựu vị.

Nhìn cuộc thế thái rồi tới bỉ, dạy chúng sanh tìm đường sanh ký với tử qui. Kìa Trương Lương dưng dép dưới châu bì, công quả ấy còn ghi đền đáp trả.

Rày sanh-chúng có chi răn lạ.

Hễ “thực qua thì hậu quả đắc qua”.

Cõi trần gian chi thú cũng Ta bà, kìa hải đảo ngâm nga lời phú vịnh.

Quy Tam Giáo vừa nơi hội Bính.

Hiệp Ngũ Chi mà thức tỉnh đám ngây khờ.

Mượn bút thần sắc lịnh Ngọc cơ, bày lý diệu dạy đám mịt mờ trong bể khổ.

Truyền Đại Đạo lần ba Phổ Độ vì chúng sanh nên thi thố máy hành tàng, cả khắp nơi rực rực huy hoàng, đèn giác ngộ rõ ràng thêm sáng tỏ.

Phận cui cút đành chịu cơ lem với lọ, kẻ chá đầu người phỏng trán, mà ai có ra gì?
Sớm không lo học đạo từ bi, đành quen thói vô nghì hơi nực nội.

Máy luân chuyển sớm mai rồi cũng tối, mến lợi danh còn lặn lội chốn mê đồ.

Khá rèn lòng lo niệm chữ Nam Mô, mà thức giấc điệp hồ cơn sóng bủa.

Mồi vật chất nào là sa số gấm lụa, khiến cho người đều mê muội theo đời.

THI BÀI
Đời vừa lúc hạ nguơn mạt kiếp,
Thương chúng sanh giấc điệp mơ màng;
Pháp môn mở rộng con đàng,
Vạch câu tà chánh rõ ràng cao xa.
Hỡi nhơn loại ái hà mê muội,
Sao chẳng thông đạo buổi Tam kỳ;
Dạy đời giác ngộ quy y,
Biết câu chân lý biết kỳ hoằng khai.
Lời phổ hóa đôi bài lý yếu,
Cho chúng sanh được hiểu lựa lần.
Có công rồi cũng có phần,
Nhờ ơn chỉ lối mau lần bước lên.
Phải un đúc một nền phước hậu,
Máy hành tàng hiểu thấu lời Ta;
Mấy thu trong cõi Ta ba,
Bao lời Thánh huấn dạy ra nên tường.
Kiếp hầu chuyển tang thương khổ não,
Luật thiên nhiên cơ tạo nhiệm mầu;
Dạy đem Yếu Lý làm đầu,
Cho người tu niệm mới hầu quả xưa.
Đời lắm nổi nắng mưa ấm lạnh,
Biết đâu phân lời thánh tiếng phàm;
Mấy lời dạy lúc canh tam,
Mượn nhành dương liễu luận đàm lời khuyên.
Câu đạo đức cần chuyên vẹn nhớ,
Việc tu trì trả nợ bồi công;
Phải tua nao nức tấm lòng,
Biết dò nẻo chánh mới hòng nơi cao.
Trên gối điệp chiêm bao mơ tỉnh,
Gắng thành tâm vui thính lời Ta;
Thế gian đâu phải là nhà,
Không tu một kiếp khổ mà ngàn thu.
Phận cực khổ lo bù lúc khổ,
Kiếp nặng nề tìm chỗ giải oan;
Lời ta dạy thật rõ ràng,
Chúng sanh kíp lựa con đàng chánh chơn.
Kìa bể khổ thua hơn chi đó,
Kiếp con người gẫm có là bao;
Trau dồi đức trọng tài cao,
Biết ơn Tạo Hóa biết màu thiện tâm.
Lời giáo huấn canh thâm tường tất,
Các nguyên nhân vui thật trung hòa;
Hay chi chìm nổi ái hà,
Hôn mê linh tánh sa đà phù sanh.
Đừng ham muốn lợi danh ràng buộc,
Kiếp phù sanh phỏng được là bao;
Giới quy hai chữ làm đầu,
Học làm lý diệu tu cầu đức cao.
Nhìn trần cảnh biết bao nông nổi,
Khôn đành xem lạc lối tà tây;
Lời châu khuyên nhủ dạy bày,
Có lao lý mới mong ngày thanh cao.
Đời chẳng rõ phong trào luân chuyển,
Chuyển nhân tâm liệu biện sửa mình;
Có thân thì đức phải gìn,
Có phân tà chánh, mới tin sửa lòng.
Kẻo ngày tháng mắc trong ách khổ,
Dụng tam tông mà độ sửa đời;
Nhơn luân phong hóa đổi dời,
Phải tin rằng có Thầy Trời chủ trương.
Trai gìn trọn năm thường, ba mối,
Chớ tưởng lầm nhà tối vắng không;
Gái lo Tứ đức Tam tùng,
Nết na đằm thắm tư dung nhu mỳ.
Tròn nhơn đạo quy y theo Phật,
Dứt duyên trần Lục, Thất lánh xa;
Diệu đề chánh Đạo tìm ra,
Tam quy Ngũ giới ấy là pháp môn.
Dùng Đạo lực mở hồn sanh chúng,
Chí trượng phu nên dụng sửa đời;
Lặng xem dâu bể đổi dời,
Rõ thông cơ tạo biết thời Đạo khai.
Lời Thánh huấn trọn bài yếu lý,
Dạy chỉ rành phi thị đôi câu;
Chớ mê sang đẹp các lầu,
Vinh bao nhiêu lắm nhục hầu bấy nhiêu.
Ngựa qua cửa, bóng thiều nhặt thúc,
Sướng vui chi câu thúc chuyện đời;
Thinh thinh dưới đất trên Trời.
Thế gian là chỗ nghỉ ngơi lọc lừa.
Đời mau lẹ chiều trưa thấy đó,
Luật tuần huờn gẫm có bao lâu,
Rõ câu thiên ốc thiềm đầu,
Chớ rằng chẳng có lý mầu Thiên công,
Kìa kiếp tục não nần cho phận,
Còn đeo đai lận đận một đời;
Sớm còn hoi háp chút hơi,
Tranh đua sức mạnh cao lời ích chi?
Đời mạt kiếp nạn nguy nhiều nỗi,
Trả sao cho sạch tội tiền khiên;
Mới toan dồi luyện tánh thiêng,
Lọc lừa vật lụy tìm yên thiện từ.
Đời sanh chúng mang từ bao kiếp,
Phải tỉnh mê cho kịp sửa mình;
Bớt phen dăng díu nghĩa tình,
Học câu Bác ái Công bình Từ bi.

TIẾP BÀI
LÝ mầu nhiệm vô vi chỉ rõ,
TRƯỜNG công tu đến đó lãnh phần,
CANH tàn ngọc bút  bày phân,
Tiếp truyền chơn đạo mấy lần rồi đây.
Hỡi khách trần đắm say chung đỉnh,
Nghe lời khuyên mau tỉnh giấc hòe;
Cuộc đời còn lắm éo le,
Có vinh thì nhục ám dè theo sau.
Xem tàn linh lỡ đau lỡ khóc,
Khóc bớ người chớ học thói ma;
Nhìn xem mấy dặm quan hà,
Thật là bao nã thật là cam go.
Chúng sanh ôi! hiểu cho thấu đáo,
Hội Trung thiên Thánh Đạo ra đời;
Nắm dây nhờ có Thầy Trời,
Chỉ đường chơn lý khuyên mời khách mê.
Kiếp con người não nề cam phận,
Thói yêu ma lận đận bốn bề;
Thấy vầy Lão luống lòng ghê,
Ghê cho kẻ dại quên về cựu bang.
Chốn hồng trần tiền ngàn bạc vạn,
Nỗi dinh hư quả mãn cũng rồi;
Thế gian mấy kẻ yên ngồi,
Tấm thân hữu hoại nghĩ thôi chác lòng.
Về Tiên gia Trời trong mát mẻ,
Đài Kim liên hạc ré chực chầu;
Tràng phang bửu lạp kim châu,
Nào khi nhược thủy nào cầu ngân ô.
Khi dạo gót Thương ngô Túy liễu,
Lúc nhàn du Viễn kiệu Phương hồ;
Bồ đào rượu chước hồ lô,
Khoan khoan tiếng vịnh hoàn đồ Tiên ngâm.
Cảnh như vậy ai tầm bước đến;
Chỗ hồng gian yêu mến chi mà;
Sống đau rồi đã thấy già,
Nỗi con, nỗi vợ, nỗi nhà, nỗi lo.
Kiếp cam đành trong lò danh lợi,
Phận cút cui cũng ngợi danh trò;
Cứ ham chọn hạc đổi cò,
Thấy người có lợi lòng lo như người.
Tưởng tấm thân trọn đời bay nhảy,
Nợ trả vay khó chạy qua Trời;
Biết đâu phần phước đổi dời,
Lo chưa phỉ dạ luật Trời Diêm Vương.
Ối thôi thôi! Bốn tường rất khổ,
Tửu, dắt người đến chỗ mê man;
Lòng sanh kế xảo mưu gian,
Tửu trung quân tử lời vàng Lão khuyên.
Sắc, cám người lòng Tiên hóa tục,
Hại nguơn thần câu thúc khí tinh;
Lỡ thân vào chỗ trường tình,
Biết bao nông nổi thể hình ốm đau.
Tài, dục kẻ tham giàu đeo đuổi,
Trọn đời người sớm tối siêng lo;
Lòng tham muốn được lợi to,
Kể chi thân tộc miễn cho được phần.
Vì vật chất hư thân hại thể,
Vì tiền tài mất lễ mất nhơn;
Khí là phải chẳng đâu hơn,
Sân, si, ố, nộ, chẳng cần chẳng kiên.
Khiến cho người tâm điên trí đảo,
Thốt ra lời tàn bạo lầm sai;
Một lời, một quấy, một sai,
Xem trong nhân loại phiền tai dẫy đầy.
Cũng bởi đời giấc say chưa tỉnh,
Cám lòng thương linh tánh một bầy;
Vì thương Lão nhắc lời nầy,
Muốn thành Phật quả phải dày công tu.
Cuộc thế tàn mấy thu ngơ ngáo,
Chuyển Tam kỳ giáo đạo Nam bang;
Độ đời thoát chỗ lầm than,
Biết nơi Tiên CẢNH, Thiên đàng là đây.
Nhấm mùi đời biết cay biết đắng,
Chớ sa mê hụp lặn đắm chìm;
Xét rành tự cổ chí kim,
Mấy ai mê muội mà tìm được cao.
Cuộc đỏ đen anh đào phải lụy,
Lụy vào nơi tài, khí, tửu tham;
Mùi đời ai nếm cũng ham,
Cũng là một bổn tâm phàm dại khôn.
Mê giấc hòe lấp chôn thân thể,
Nợ mình gây chứa để dập dồn;
Làm cho xiêu lạc linh hồn,
Mất phần chơn tánh bảo tồn chi đâu.
Biển ái hà, càng sâu, càng thẳm,
Bớ đời ôi!! Chớ ngắm mà lầm;
Chôn người mất trí mất tâm,
Mất luôn tam bửu khó tầm linh căn.
Chẳng mấy khi hóa hoằng Chánh đạo,
Dạy cho đời tường đáo linh cơ;
Than ôi! khờ thiệt quá khờ,
Cứ ham đường tối mịt mờ nẻo ngay.
Vì thương người chỉ bày lý triết,
Trai năm hằng phải biết nghiệm suy;
Nhơn là cấm sát bất vi,
Nghĩa lo xong việc phải tùy theo cơn.
Lễ là lo chớ sờn lễ nghĩa,
Trí phải tri mỗi phía cuộc đời;
Tín là lòng chẳng sai dời,
Anh em bạn hữu mỗi lời gắn ghi.
Đạo tam cang phải tùy Nho giáo,
Nghĩa vua tôi giữ Đạo công bình;
Cha từ con thảo nên gìn,
Chồng hòa vợ kỉnh gia đình mới nên,
Khuyên Nam, Nữ đôi bên nên nghĩ,
Đạo từ xưa rành chỉ cho rồi;
Đau lòng lắm hỡi đời ôi,
Vì đâu quên cả hết rồi vậy a?
Phận Nữ nhi ngắm đà chua chát,
Chữ Tam Tùng phải tạc vào tâm;
Tùng cha thuở bé chớ lầm,
Lớn Tùng Phu phải công tâm với chồng.
Chồng tiên tử phải tùng chữ tử,
Vui trọn niềm bảy lự ba lo;
Ấy là luân lý nhà Nho,
Nay qua Thích Đạo học cho nhiệm mầu.
Đường qui giới đôi câu nhắc nhở,
Đạo khuyên đời trả nợ mình gây,
Muốn về Cực Lạc phương Tây?
Học theo Phật Pháp nghe Thầy giảng kinh.
Luận thử câu Công bình Bác ái,
Lo xong rồi đến Đại Từ bi;
Thương thay mấy kẻ vô nghì,
Quên đường tiên cảnh chờ khi người về.
Vì nhân loại thảm thê lầm lạc,
Đại Thiên Tôn phổ hóa ba kỳ;
Gầy chung đủ cả năm Chi,
Cả kêu khách tục trí tri hiểu tường.
Cuộc thế tàn tan thương biến cải,
Bớ nguyên nhân lưỡng phái nghe lời;
Chuyển xây gầy mối Đạo Trời,
Dạy người cải hóa dạy đời tu tâm.
Gặp thời gian còn lầm nhiều nỗi,
Khó chỉ đường vạch lối cao xa;
Chúng sinh còn hỡi lòng ma,
Phải tùy cơ Đạo truyền ra cứu đời.
Tồn dưỡng tánh hôm mai tập học,
Học cho xong lừa lọc mỗi người;
Mới là thấu đáo cơ Trời,
Mới tường mầu nhiệm thoát nơi hồng trần.
Chuyển ngũ hành tu tâm luyện tánh,
Gìn tam nguơn, đủ ảnh tam tài;
Thế tình còn nỗi lầm sai,
Nên Thầy Thượng Đế Cao Đài quy nguyên.
Đạo Thánh rồi Đạo Tiên mới chỉ,
Chỉ cho đời tường lý mê tâm;
Bớ ai chớ vội mà lầm,
Tam Thiên lục bách theo tầm đoạt ngôi.
Nhắc tới đây bồi hồi lòng Lão,
Hãy nghĩ coi khéo tạo như vầy;
Chít chiu nhơn loại một bầy,
Mở đường Tôn giáo nơi nầy giáo dân.
Trên Thiên đình cầm cân chơn lý,
Chẳng ai qua một lý tà tâm;
Khuyên đời nay dụng quốc âm,
Có theo thời cuộc cơ thâm máy Trời.
Gió văn minh đổi dời phong hóa,
Hóa nhơn tâm một bả điêu tàn;
Lỡ cười mà cũng lỡ than,
Tiếng kêu kẻ dại chứa chan lòng phàm.
Thấy tình đời sân tham ái dục,
Giục tánh mê chẳng chút nào hay;
Tứ tường say đã quá say,
Mê tâm muội tánh đặt bày sự ngoa.
Thấy như vậy lòng ta bức rức,
Giục chuông ngân tỉnh thức mộng trường;
Bớ đời thế thói chớ vương,
Vương ma danh vọng quên đường chánh nhơn,
Kẻ sang vinh khi hờn kẻ khó,
Ỷ mượn hơn tìm ngõ trớ trinh;
Còn chi hai chữ nghĩa tình,
Kẻ khôn người bợ thì mình càng lung.
Đội một trời cũng chung một giống,
Ở ngôi cao ưa giọng cúi chào (cười . . .),
Chào thưa vì bởi danh cao,
Mãi ham quyền lộc nhớ nào trời xanh.
Miễn lo cho của dành con cháu,
Tiền mồ hôi giọt máu kẻ nghèo;
Hay chi chung cuộc như bèo,
Linh đinh nhờ nước bỏ dèo trôi xuôi.
Lão nhắc thôi ngậm ngùi dạ ngọc,
Thấy mà đau muốn khóc, khóc òa;
Trần gian là cảnh Ta bà,
Lợi danh cho mấy khó mà khỏi suy.
Vinh trước rồi nhục thì sau đó,
Đỏ hết màu thì lọ luốc lem;
Nào ai biết chế biết kềm,
Biết đường tà chánh mà đem thân về.
Nghĩ gớm ghê kẻ chê người thị,
Thị sức mình nào nghĩ ngày sau;
Kiếp người gẫm thiệt là mau,
Trăm năm mấy kẻ được bầu tròn duyên.
Vì thương đời Lão khuyên đôi khúc,
Biết tìm nơi trong đục mà dò;
Không nài cái phận đói no,
Biết lo tu niệm, biết lo độ đời.
Đưa hiền lương về nơi thanh cảnh.
Được tiêu diêu sớm lánh cõi trần;
Bồ đào liên bửu tay nâng,
Đào viên yến ẩm chín tầng đờn reo.
Chim già lăng tiếng kêu thảnh thót,
Rượu Đề hồ châm rót khuyên mời;
Mời người thoát tục nhấm chơi,
Điệu tiên gẫm có khác đời lắm chăng?
Cảnh Bồng Lai khi thăng khi giáng,
Ngũ sắc vân chói rạng hừng Trời;
Không chiều, không sớm, không mơi,
Không danh, không lợi như đời phàm gian.
Không như thể khi tan khi hiệp,
Chẳng như đời mãn kiếp trầm luân;
Ai trông bách tuế mà mừng,
Mừng nầy đây thiệt là mừng oan khiên.
Ngày chí đêm than phiền nề não,
Nỗi nợ đòi hết gạo ai lo;
Mỗi ngày cái khổ càng to,
Đông con, đông cháu, còn lo nhiều bề.
Khi sớm mai cày thuê cuốc mướn,
Gáp nháp lần khi mượn khi vay;
Than ôi!! ai hỡi có hay,
Hay chi kẻ thế đắng cay như vầy.
Người sang vinh lại bày việc  mỵ,
Kẻ xoa mưu giục chí người cô;
Phỉnh phờ tiền của thâu vô,
Miễn cho đầy túi đầy bồ thì xong.
Dạ đao kiếm tấm lòng độc ác,
Cũng chẳng qua không chát thì chua;
Ỷ mình giành giựt hơn thua,
Tửu, trà, phú quý tranh đua nhộn nhàng.
Đắm bao nhiêu lòng càng điên đảo,
Mãn một đời tội báo trả vay;
Hết tài giỏi chạy cao bay,
Ôi thôi! Địa Phủ hôm nay đã đòi.
Của muôn ngàn khôn mua đặng sống,
Cháu còn đầy, thế ổng được chăng? (cười)
Mới hay Thiên đạo công bằng,
Chẳng tư chẳng vị kẻ hèn người sang.
Nghĩ cuộc đời chứa chan bao nã,
Đời chưa tròn bỗng đã mãn căn;
Đây rồi mới biết ăn năn,
Mới hay chánh lý là đèn phá ngu.
Mãn một kiếp đường tu còn vụng,
Nhắm mắt rồi mới uổng thân sinh;
Trầm luân mãi phận cam đành,
Cũng vì kiếp trước không dành duyên thêm.
Còn sang trọng còn em còn chú,
Hết tiền tài thúc thủ ngồi than;
Than ôi! Kim tận đầu sàng,
Vô phương tráng sĩ mưu toan chước tài.
Luật công bình nợ ai nấy trả,
Gầy bao nhiêu thì phá cũng đồng;
Luật Trời xem thiệt chí công,
Nghe lời Lão giảng mặn nồng phá tan.
Kiếp lỡ rồi tìm đàng trở lại,
Nợ trái oan cũng tại mình gây;
Dại khôn nỗi nọ thế này,
Kíp nghe lời khuyến mở dây oan trần.
Lo âm chất nhờ ân cứu khổ,
Học đạo mầu ráng giỏi công tu;
Biết rằng cực lạc ngao du,
Danh thơm còn rạng muôn thu chói ngời.
Lão luận thử đôi điều yếu lý,
Lý cao xa huyền bí cơ mầu;
Bớ ai cải quá hồi đầu,
Mùi đời chán ngán mới hầu Tiên gia.
Về cảnh Tiên chẳng xa gần tới,
Khỏi Tam quy, ngũ giới đến rồi;
Đó là phản bổn về ngôi,
Lánh lòng nô lệ cho đời rảnh rang.
Động Hồ Tiên du nhàn tự toại,
Chẳng tiền đòi nợ hỏi chi chi;
Dạo chơi Bạch Ngọc Liên Trì,
Vẽ cơ vui hứng cầm thi ngâm hòa.
Chẳng lo phần Cha già Mẹ yếu,
Cũng không màng bữa thiếu bữa no;
Nhàn du Tạo Hóa một lò,
Khi cờ tứ cảnh khi dò kim xa.
Chẳng như đời hư nhà nát cửa,
Nỗi nắng mưa nương dựa qua ngày;
Đường Tiên kẻ ép người này,
Sao không tỉnh ngộ mà quầy lên đây.
Về Phật quốc Phương Tây cực lạc,
Tắm cam lồ nước mát mùi thơm;
Rỡ ràng hoa trổ quả đơm,
Liên tòa bát ngát mùi thơm nực nồng.
Tiếng ngân nga Tiên đồng Phật tử,
Giọng khoan hòa hò xự không không;
Mỗi ngày luyện đủ lục thông,
Thông tri kiến sự độc tông vạn thùy.
Hết Thiên đường Âm ty Lão nhắc,
Qui vô thường dẫn dắt tội nhơn;
Ai mà chí chính chí nhơn,
Phướng Thần theo dõi là cơn đăng đàn.
Kẻ gây nghiệt trần gian ở lại,
Xử cho xong quấy phải hai đường;
Nghĩ mà thêm tiếc thêm thương,
Trần gian chung hưởng, Diêm vương một mình.
Nghĩ đến thôi càng kinh càng sợ,
Bởi vợ con, con vợ thế giùm;
Đến đây khó bọc khôn đùm, (Cười. . .)
Lót ngài nhiều ít mở cùm tha tôi.
Ôi thôi rồi! Chủ ngồi mới nhớ,
Cũng tại mình gây nợ thế gian;
Ai chừ nhắn nhủ hỏi han,
Khuyên trong thân tộc tìm đàng tu thân.
Quyết một lòng đai cân bỏ phế,
Giàu sang nghèo chẳng kể là ai;
Miễn cho khỏi xuống Diêm đài,
Quan dân trối mặc giới trai lo gìn.
Việc lỡ rồi mới tin Thần Thánh,
Khuyên chúng sanh dưỡng tánh tâm tồn;
Mong sao độ rỗi linh hồn,
Khỏi nơi hành phạt nợ dồn trái oan.
Nghĩ cuộc đời thương tang biến cải,
Vì chúng sanh lưỡng phái say mùi;
Đạo Trời mà hóa dễ duôi,
Cũng vì kẻ tối dắt đui đi đàng.
Nên Ngọc Đế Nam bang giáo Đạo,
Độ tàn linh thiện, bảo Nguơn thần;
Trọn quyền chẳng để phàm nhân,
E khi thay đổi lắm phần sai ngoa.
Vì sanh linh Lão đà ứa lụy,
Cõi Á đông phúc ký Đạo Trời;
Tam gia quyết tận độ đời,
Giao quyền chủ thống Thầy Trời độc tôn.
Bớ chúng sanh tĩnh hồn nghe hiểu,
Biện lý chơn toan liệu hai đường;
Lánh trần bỏ thói tư lương,
Học câu thiện niệm tầm đường về ngôi.
Miếng chung đỉnh như mồi rước khách,
Khách giác mê diệt sạch tâm trần;
Đổi làm thiện đức tân dân,
Thì coi chữ phú chữ bần như nhau.
Biết sửa đời mau mau hồi tỉnh,
Tỉnh nghe lời Tà Chánh Yếu Ngôn;
Độ nhơn, chơn tánh bảo tồn,
Trong veo lóng kỹ linh hồn chớ nhơ.

(Trích Kinh “Tà Chánh Yếu Ngôn” do Đức Lý Thái Bạch giáng cơ dạy Đạo)